Thứ tư, 20/01/2021 - 7 giờ 15 phút, sáng.

Vì sao PV Drilling hoạt động kém hiệu quả? [Tiếp theo phần 1]

Ngày đăng: 29/11/2018 - 20:56

Không dễ gì một sớm một chiều Tổng công ty Cổ phần Khoan và Dịch vụ Khoan Dầu khí (PV Drilling – PVD) có thể có được doanh thu và lợi nhuận hiệu quả ít nhất trong biên độ 2 đến 3 năm nữa. Mặt khác, việc kêu gọi từ các nhà đầu tư cũng không hề đơn giản, PVD không thể phát hành thêm cổ phiếu để gọi vốn trong bối cảnh báo cáo tài chính đang phủ bóng mây màu xám, các nhà đầu tư lớn sẽ nghi ngờ và thận trọng hơn rất nhiều.

11:14 |29/11/2018

Không dễ gì một sớm một chiều Tổng công ty Cổ phần Khoan và Dịch vụ Khoan Dầu khí (PV Drilling – PVD) có thể có được doanh thu và lợi nhuận hiệu quả ít nhất trong biên độ 2 đến 3 năm nữa. Mặt khác, việc kêu gọi từ các nhà đầu tư cũng không hề đơn giản, PVD không thể phát hành thêm cổ phiếu để gọi vốn trong bối cảnh báo cáo tài chính đang phủ bóng mây màu xám, các nhà đầu tư lớn sẽ nghi ngờ và thận trọng hơn rất nhiều.

Vì sao PV Drilling hoạt động kém hiệu quả?

NGUYÊN NHÂN TỪ ĐÂU?

Cơ cấu vốn Nhà nước đang là 51% và sắp tới theo đề án tái cơ cấu của Tập đoàn đã được phê duyệt thì lộ trình thoái vốn tại PVD sẽ về mức con số dự trù là 20%. Với mức này sẽ giúp PVD tự chủ hơn trọng hoạt động đầu tư và mua sắm khi nhiều thủ tục sẽ không nằm trong phạm vi điều chỉnh của luật, điển hình là Luật Đấu thầu.

Tuy nhiên, cũng cần phải lưu ý là người đại diện phần vốn Nhà nước (ở đây là PVN), trước hay sau khi hạ mức thoái vốn, vẫn phải chịu sự chi phối theo quy định về quản lý vốn của Nhà nước để quản lý doanh nghiệp và phê duyệt các dự án phải có căn cứ theo pháp định.

Có một số lý giải khác về việc đưa giàn khoan tự nâng ra thực hiện các dự án ở nước ngoài trong điều kiện vẫn lỗ có thể như duy trì được lực lượng nhân sự, có kinh phí bảo trì, bảo dưỡng tài sản thiết bị của giàn, ít nhất có dòng tiền (doanh thu) để duy trì hoạt động và trang trải chi phí hoạt động.

Nhưng xét về mặt quản trị doanh nghiệp, điều này khó có thể chấp nhận được trong điều kiện hoạt động của PVD những năm gần đây. Việc sử dụng vốn Nhà nước phải có hiệu quả và chắc chắn rằng vốn nhà nước không được phép chảy vào các dự án khi đã có cơ sở xác định chắc chắn là sẽ thua lỗ.

NHỮNG TÁC NHÂN CẦN NHẬN DIỆN

Được hưởng lợi từ Nghị quyết 233/NQ-DU (do Chủ tịch PVN ký ngày 17/03/2009) và lúc giá dầu đang trong chu kỳ tăng cao, PVD thúc đẩy đầu tư vào các công ty liên doanh, liên kết trong nước như đã kể tên (trong bài trước). Cao điểm, ngày 22/01/2013, PVD ra Nghị quyết thành lập liên doanh PVD Overseas ở Singapore nhằm phát triển hoạt động dầu khí, cụ thể là đưa dịch vụ khoan vươn ra nước ngoài.

Ít ngày sau, ngày 6/2/2013, tại Singapore, PVD ký kết hợp đồng liên doanh với Công ty Falcon Eenrgy Group Limited (FEG) thành lập Công ty liên doanh PVD Overseas để đầu tư vào giàn khoan thế hệ mới – CJ46. Giàn khoan này, sau đó lấy tên là PVD6, khi ấy công ty FEG đang thuê nhà thầu Keppel Singapore đóng mới. Như vậy, đây là liên doanh trên hình thức PVD góp 50% vốn vào dự án PVD6.

Tổng mức đầu tư giàn khoan này là 226.700.000 USD (chi phí cao so với thị giá hiện tại đối với giàn khoan thế hệ CJ46) trên cơ sở góp vốn góp ban đầu là 30% vốn chủ sở hữu (PVD góp 30.000.000 USD) và 70% vốn vay tín dụng. Ngày 06/05/2014, đại diện PVD Overseas và PVD ký kết hợp đồng tín dụng với 3 ngân hàng gồm: Vietcombank, Eximbank và Seabank. Tổng giá trị hợp đồng tín dụng là 158,7 triệu USD, trong đó Vietcombank là ngân hàng đầu mối.

Lễ ký kết hợp đồng tín dụng.

Cuối năm 2013 thì giàn PVD6 hoàn thành chạy thử và đi vào hoạt động. Không may, do giá dầu xuống thấp từ đó đến nay, các dự án giàn này tham gia hầu như thua lỗ kéo theo PVD Overseas thua lỗ và là tác nhân chính góp phần cho PVD thua lỗ.

Theo thuyết minh trên Báo cáo tài chính hợp nhất, PVD Overseas hiện tại là công ty con của PVD. Nghĩa là cơ cấu vốn đã có thay đổi, theo đó, PVD nâng mức sở hữu hơn 50% và nắm quyền kiểm soát và điều hành thông qua hợp đồng vận hành và bảo dưỡng sửa chữa (OM).

Hiện tại, mức dư nợ (tính đến cuối năm tài khóa 2017) theo thuyết minh trên Báo cáo tài chính hợp nhất dành riêng cho PVD6 là 152.982.067 USD (hơn 3 ngàn tỷ đồng).

Theo thực tế hoạt động hiện nay, với quan điểm của chúng tôi, cơ cấu vốn vay quá cao, thị trường khu vực cạnh tranh gay gắt, PVD6 không thể mang lại lợi nhuận sau khi thanh toán các khoản nợ gốc + lãi vay và chi phí phải trả cho đối tác cũng như chi phí OM.

Câu hỏi là, đối tác hợp tác đầu tư giàn PVD6, đã và sẽ chia sẻ những rủi ro gì trong điều kiện khó khăn về thị trường hiện nay? Vì xét về bản chất, PVD là công ty mẹ, sẽ phải gánh chịu hết các rủi ro khi đứng ra bảo lãnh đối với hợp đồng vay tín dụng.

Về mặt kinh doanh, khi đầu tư vào dự án PVD6, cần phải xem PVD đã thẩm định kỹ các rủi ro về mặt thị trường, về cơ cấu vốn vay chiếm tỷ trọng quá lớn trong khi chưa hề có kinh nghiệm tại thị trường nước ngoài hay chưa. Nguyên tắc quản trị tài chính, quản trị rủi ro và chiến lược kinh doanh, khi đầu tư cần phải đánh giá theo mô hình SWOT tính đến hiệu quả dựa trên các nguồn lực.

Có thể thấy, PVD đã đầu tư ra nước ngoài dựa trên khoản vốn vay quá lớn chiếm đến 70%, trong khi chưa hề có kinh nghiệm ở thị trường nước ngoài cũng như chưa có các đối tác cam kết các hợp đồng khoan trong dài hạn. Đã vậy, sau khi đi vào hoạt động, PVD lại thay đổi hình thức sở hữu, gánh thêm nhiều rủi ro từ PVD Overseas.

NGUYÊN TẮC QUẢN TRỊ CHIẾN LƯỢC VÀ RỦI RO

Với khối tài sản gần 1 tỷ USD, về nguyên tắc điều hành, PVD không thể bỏ qua nguyên tắc quản trị chiến lược và quản trị rủi ro tài chính. Khó khăn hàng đầu tại PVD hiện nay có thể hiểu là dòng tiền, được hình thành tập trung từ hai nguồn chính. Đó là: (1) doanh thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh; (2) kêu gọi từ nhà đầu tư.

Trong bối cảnh hiện tại, do giá dầu diễn biến phức tạp và khó lường, các chủ mỏ vẫn đang cân nhắc trong hoạch định đầu tư khoan thăm dò và phát triển khai thác vì điều này liên quan tới bài toán hiệu quả kinh tế. Vậy nên, nhu cầu khoan thăm dò và phát triển thấp, dẫn tới số lượng giàn khoan chờ việc cùng phân khúc với giàn khoan PVD đang sở hữu còn nhiều.

Do đó không dễ gì một sớm một chiều PVD có thể có được doanh thu và lợi nhuận hiệu quả ít nhất trong biên độ 2 đến 3 năm nữa. Mặt khác, việc kêu gọi từ các nhà đầu tư cũng không hề đơn giản, PVD không thể phát hành thêm cổ phiếu để gọi vốn trong bối cảnh báo cáo tài chính đang phủ bóng mây màu xám, các nhà đầu tư lớn sẽ nghi ngờ và thận trọng hơn rất nhiều.

Vì vậy, có thể kết luận rằng, PVD sẽ trông chờ vào nguồn từ PVN đóng góp thêm các chi phí để phục vụ cho nhu cầu duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh. Chắc chắn các lãnh đạo PVD đang mong chờ PVN chậm cho triển khai việc thoái vốn tại PVD.

Về mặt quản trị rủi ro và tài chính, điều gì sẽ xảy ra nếu như PVD Overseas mất khả năng thanh toán và bị ngân hàng phong tỏa tài sản thế chấp là giàn khoan PVD6. Tình hình có thể xấu hơn nữa khi ngân hàng có thể phong tỏa tài khoản PVD, là đơn vị cam kết bảo lãnh cho hợp đồng tín dụng này.

Con số đầu tư với đối tác nước ngoài trong dự án PVD6 lên tới hàng ngàn tỷ mà hiệu quả đem lại là con số thua lỗ hàng trăm tỷ mỗi năm. Trách nhiệm này thuộc về ai? Nếu nhìn trên hiệu quả hoạt động kinh doanh, có thể thấy ban lãnh đạo PVD đã không dự báo được tình hình thị trường trong dài hạn. Quyết định đầu tư trên nặng về cảm tính và bỏ qua nguyên tắc quản trị rủi ro về tài chính và chiến lược thị trường.

Các hoạt động của PVD ở nước ngoài thể hiện trên Báo cáo tài chính hợp nhất tính đến hết quý 3 năm nay.

Khi hoạt động kinh doanh có lợi nhuận tốt những năm trước 2013, đáng lẽ cần dùng quỹ KHCN để đầu tư vào phát triển khoa học để thu gọn các hoạt động, tiết giảm chi phí OM thì PVD lại đầu tư ồ ạt, dàn trải, đi thuê dịch vụ từ đối tác liên doanh liên kết.

Đến khi khó khăn, lại dùng quỹ KHCN nhập vào doanh thu để đối phó ngắn hạn. Đây không phải là hình thức kinh doanh có định hướng chiến lược dài hạn mà là ngược lại. Đây chính là điều mà các cổ đông tham gia đầu tư muốn được làm rõ.

Hệ quả là đến hiện tại, do thị trường nước ngoài quá cạnh tranh nên PVD6 đã phải về hoạt động trong nước. Điều này gây thêm bất lợi cho PVD khi mà các giàn khoan khác phải chia sẻ thị phần cho PVD6. Trong tình hình các dự án trì trệ, chậm tiến độ, thị trường bó hẹp, dự báo PVD sẽ còn gặp khó khăn hơn nữa.

Có thể thấy là khi không còn được lợi từ Nghị quyết 233/NQ-DU, đối với thị trường trong nước nữa thì PVD sẽ khó khăn hơn nữa. Về mảng dịch vụ khoan, chắc chắn PVD phải cạnh tranh một cách sòng phẳng hơn với các công ty dịch vụ trong và ngoài nước.

Theo Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 và Chị thị 47 của Thủ tướng Chính phủ số 47/CT-TTg, và đề án tái cơ cấu, nguồn “sữa” nuôi PVD thông qua Nghị quyết 233 sẽ bị cắt đột ngột, bản thân đội ngũ lãnh đạo PVD sẽ chưa định lượng được trước và thích ứng với điều này. Bằng chứng là hàng loạt các gói thầu trước đây PVD một mình một chợ, nay đã đổi chủ dẫn tới khó khăn thêm chồng chất về thị trường.

(Còn nữa…)

NGUYỄN LÊ MINH

Let’s block ads! (Why?)

: Tin năng lượng — NLVN.vn

  • 30 lượt xem
  • Print Print

Vì sao PV Drilling hoạt động kém hiệu quả? [Tiếp theo phần 1]

Ngày đăng: 29/11/2018 - 18:56

Không dễ gì một sớm một chiều Tổng công ty Cổ phần Khoan và Dịch vụ Khoan Dầu khí (PV Drilling – PVD) có thể có được doanh thu và lợi nhuận hiệu quả ít nhất trong biên độ 2 đến 3 năm nữa. Mặt khác, việc kêu gọi từ các nhà đầu tư cũng không hề đơn giản, PVD không thể phát hành thêm cổ phiếu để gọi vốn trong bối cảnh báo cáo tài chính đang phủ bóng mây màu xám, các nhà đầu tư lớn sẽ nghi ngờ và thận trọng hơn rất nhiều.

11:14 |29/11/2018

Không dễ gì một sớm một chiều Tổng công ty Cổ phần Khoan và Dịch vụ Khoan Dầu khí (PV Drilling – PVD) có thể có được doanh thu và lợi nhuận hiệu quả ít nhất trong biên độ 2 đến 3 năm nữa. Mặt khác, việc kêu gọi từ các nhà đầu tư cũng không hề đơn giản, PVD không thể phát hành thêm cổ phiếu để gọi vốn trong bối cảnh báo cáo tài chính đang phủ bóng mây màu xám, các nhà đầu tư lớn sẽ nghi ngờ và thận trọng hơn rất nhiều.

Vì sao PV Drilling hoạt động kém hiệu quả?

NGUYÊN NHÂN TỪ ĐÂU?

Cơ cấu vốn Nhà nước đang là 51% và sắp tới theo đề án tái cơ cấu của Tập đoàn đã được phê duyệt thì lộ trình thoái vốn tại PVD sẽ về mức con số dự trù là 20%. Với mức này sẽ giúp PVD tự chủ hơn trọng hoạt động đầu tư và mua sắm khi nhiều thủ tục sẽ không nằm trong phạm vi điều chỉnh của luật, điển hình là Luật Đấu thầu.

Tuy nhiên, cũng cần phải lưu ý là người đại diện phần vốn Nhà nước (ở đây là PVN), trước hay sau khi hạ mức thoái vốn, vẫn phải chịu sự chi phối theo quy định về quản lý vốn của Nhà nước để quản lý doanh nghiệp và phê duyệt các dự án phải có căn cứ theo pháp định.

Có một số lý giải khác về việc đưa giàn khoan tự nâng ra thực hiện các dự án ở nước ngoài trong điều kiện vẫn lỗ có thể như duy trì được lực lượng nhân sự, có kinh phí bảo trì, bảo dưỡng tài sản thiết bị của giàn, ít nhất có dòng tiền (doanh thu) để duy trì hoạt động và trang trải chi phí hoạt động.

Nhưng xét về mặt quản trị doanh nghiệp, điều này khó có thể chấp nhận được trong điều kiện hoạt động của PVD những năm gần đây. Việc sử dụng vốn Nhà nước phải có hiệu quả và chắc chắn rằng vốn nhà nước không được phép chảy vào các dự án khi đã có cơ sở xác định chắc chắn là sẽ thua lỗ.

NHỮNG TÁC NHÂN CẦN NHẬN DIỆN

Được hưởng lợi từ Nghị quyết 233/NQ-DU (do Chủ tịch PVN ký ngày 17/03/2009) và lúc giá dầu đang trong chu kỳ tăng cao, PVD thúc đẩy đầu tư vào các công ty liên doanh, liên kết trong nước như đã kể tên (trong bài trước). Cao điểm, ngày 22/01/2013, PVD ra Nghị quyết thành lập liên doanh PVD Overseas ở Singapore nhằm phát triển hoạt động dầu khí, cụ thể là đưa dịch vụ khoan vươn ra nước ngoài.

Ít ngày sau, ngày 6/2/2013, tại Singapore, PVD ký kết hợp đồng liên doanh với Công ty Falcon Eenrgy Group Limited (FEG) thành lập Công ty liên doanh PVD Overseas để đầu tư vào giàn khoan thế hệ mới – CJ46. Giàn khoan này, sau đó lấy tên là PVD6, khi ấy công ty FEG đang thuê nhà thầu Keppel Singapore đóng mới. Như vậy, đây là liên doanh trên hình thức PVD góp 50% vốn vào dự án PVD6.

Tổng mức đầu tư giàn khoan này là 226.700.000 USD (chi phí cao so với thị giá hiện tại đối với giàn khoan thế hệ CJ46) trên cơ sở góp vốn góp ban đầu là 30% vốn chủ sở hữu (PVD góp 30.000.000 USD) và 70% vốn vay tín dụng. Ngày 06/05/2014, đại diện PVD Overseas và PVD ký kết hợp đồng tín dụng với 3 ngân hàng gồm: Vietcombank, Eximbank và Seabank. Tổng giá trị hợp đồng tín dụng là 158,7 triệu USD, trong đó Vietcombank là ngân hàng đầu mối.

Lễ ký kết hợp đồng tín dụng.

Cuối năm 2013 thì giàn PVD6 hoàn thành chạy thử và đi vào hoạt động. Không may, do giá dầu xuống thấp từ đó đến nay, các dự án giàn này tham gia hầu như thua lỗ kéo theo PVD Overseas thua lỗ và là tác nhân chính góp phần cho PVD thua lỗ.

Theo thuyết minh trên Báo cáo tài chính hợp nhất, PVD Overseas hiện tại là công ty con của PVD. Nghĩa là cơ cấu vốn đã có thay đổi, theo đó, PVD nâng mức sở hữu hơn 50% và nắm quyền kiểm soát và điều hành thông qua hợp đồng vận hành và bảo dưỡng sửa chữa (OM).

Hiện tại, mức dư nợ (tính đến cuối năm tài khóa 2017) theo thuyết minh trên Báo cáo tài chính hợp nhất dành riêng cho PVD6 là 152.982.067 USD (hơn 3 ngàn tỷ đồng).

Theo thực tế hoạt động hiện nay, với quan điểm của chúng tôi, cơ cấu vốn vay quá cao, thị trường khu vực cạnh tranh gay gắt, PVD6 không thể mang lại lợi nhuận sau khi thanh toán các khoản nợ gốc + lãi vay và chi phí phải trả cho đối tác cũng như chi phí OM.

Câu hỏi là, đối tác hợp tác đầu tư giàn PVD6, đã và sẽ chia sẻ những rủi ro gì trong điều kiện khó khăn về thị trường hiện nay? Vì xét về bản chất, PVD là công ty mẹ, sẽ phải gánh chịu hết các rủi ro khi đứng ra bảo lãnh đối với hợp đồng vay tín dụng.

Về mặt kinh doanh, khi đầu tư vào dự án PVD6, cần phải xem PVD đã thẩm định kỹ các rủi ro về mặt thị trường, về cơ cấu vốn vay chiếm tỷ trọng quá lớn trong khi chưa hề có kinh nghiệm tại thị trường nước ngoài hay chưa. Nguyên tắc quản trị tài chính, quản trị rủi ro và chiến lược kinh doanh, khi đầu tư cần phải đánh giá theo mô hình SWOT tính đến hiệu quả dựa trên các nguồn lực.

Có thể thấy, PVD đã đầu tư ra nước ngoài dựa trên khoản vốn vay quá lớn chiếm đến 70%, trong khi chưa hề có kinh nghiệm ở thị trường nước ngoài cũng như chưa có các đối tác cam kết các hợp đồng khoan trong dài hạn. Đã vậy, sau khi đi vào hoạt động, PVD lại thay đổi hình thức sở hữu, gánh thêm nhiều rủi ro từ PVD Overseas.

NGUYÊN TẮC QUẢN TRỊ CHIẾN LƯỢC VÀ RỦI RO

Với khối tài sản gần 1 tỷ USD, về nguyên tắc điều hành, PVD không thể bỏ qua nguyên tắc quản trị chiến lược và quản trị rủi ro tài chính. Khó khăn hàng đầu tại PVD hiện nay có thể hiểu là dòng tiền, được hình thành tập trung vào hai nguồn chính. Đó là: (1) doanh thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh; (2) kêu gọi từ nhà đầu tư.

Trong bối cảnh hiện tại, do giá dầu diễn biến phức tạp và khó lường, các chủ mỏ vẫn đang cân nhắc trong hoạch định đầu tư khoan thăm dò và phát triển khai thác vì điều này liên quan tới bài toán hiệu quả kinh tế. Vậy nên, nhu cầu khoan thăm dò và phát triển thấp, dẫn tới số lượng giàn khoan chờ việc cùng phân khúc với giàn khoan PVD đang sở hữu còn nhiều.

Do đó không dễ gì một sớm một chiều PVD có thể có được doanh thu và lợi nhuận hiệu quả ít nhất trong biên độ 2 đến 3 năm nữa. Mặt khác, việc kêu gọi từ các nhà đầu tư cũng không hề đơn giản, PVD không thể phát hành thêm cổ phiếu để gọi vốn trong bối cảnh báo cáo tài chính đang phủ bóng mây màu xám, các nhà đầu tư lớn sẽ nghi ngờ và thận trọng hơn rất nhiều.

Vì vậy, có thể kết luận rằng, PVD sẽ trông chờ vào nguồn từ PVN đóng góp thêm các chi phí để phục vụ cho nhu cầu duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh. Chắc chắn các lãnh đạo PVD đang mong chờ PVN chậm cho triển khai việc thoái vốn tại PVD.

Về mặt quản trị rủi ro và tài chính, điều gì sẽ xảy ra nếu như PVD Overseas mất khả năng thanh toán và bị ngân hàng phong tỏa tài sản thế chấp là giàn khoan PVD6. Tình hình có thể xấu hơn nữa khi ngân hàng có thể phong tỏa tài khoản PVD, là đơn vị cam kết bảo lãnh cho hợp đồng tín dụng này.

Con số đầu tư với đối tác nước ngoài trong dự án PVD6 lên tới hàng ngàn tỷ mà hiệu quả đem lại là con số thua lỗ hàng trăm tỷ mỗi năm. Trách nhiệm này thuộc về ai? Nếu nhìn trên hiệu quả hoạt động kinh doanh, có thể thấy ban lãnh đạo PVD đã không dự báo được tình hình thị trường trong dài hạn. Quyết định đầu tư trên nặng về cảm tính và bỏ qua nguyên tắc quản trị rủi ro về tài chính và chiến lược thị trường.

Các hoạt động của PVD ở nước ngoài thể hiện trên Báo cáo tài chính hợp nhất tính đến hết quý 3 năm nay.

Khi hoạt động kinh doanh có lợi nhuận tốt những năm trước 2013, đáng lẽ cần dùng quỹ KHCN để đầu tư vào phát triển khoa học để thu gọn các hoạt động, tiết giảm chi phí OM thì PVD lại đầu tư ồ ạt, dàn trải, đi thuê dịch vụ từ đối tác liên doanh liên kết.

Đến khi khó khăn, lại dùng quỹ KHCN nhập vào doanh thu để đối phó ngắn hạn. Đây không phải là hình thức kinh doanh có định hướng chiến lược dài hạn mà là ngược lại. Đây chính là điều mà các cổ đông tham gia đầu tư muốn được làm rõ.

Hệ quả là đến hiện tại, do thị trường nước ngoài quá cạnh tranh nên PVD6 đã phải về hoạt động trong nước. Điều này gây thêm bất lợi cho PVD khi mà các giàn khoan khác phải chia sẻ thị phần cho PVD6. Trong tình hình các dự án trì trệ, chậm tiến độ, thị trường bó hẹp, dự báo PVD sẽ còn gặp khó khăn hơn nữa.

Có thể thấy là khi không còn được lợi từ Nghị quyết 233/NQ-DU, đối với thị trường trong nước nữa thì PVD sẽ khó khăn hơn nữa. Về mảng dịch vụ khoan, chắc chắn PVD phải cạnh tranh một cách sòng phẳng hơn với các công ty dịch vụ trong và ngoài nước.

Theo Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 và Chị thị 47 của Thủ tướng Chính phủ số 47/CT-TTg, và đề án tái cơ cấu, nguồn “sữa” nuôi PVD thông qua Nghị quyết 233 sẽ bị cắt đột ngột, bản thân đội ngũ lãnh đạo PVD sẽ chưa định lượng được trước và thích ứng với điều này. Bằng chứng là hàng loạt các gói thầu trước đây PVD một mình một chợ, nay đã đổi chủ dẫn tới khó khăn thêm chồng chất khó khăn về thị trường.

(Còn nữa…)

NGUYỄN LÊ MINH

Let’s block ads! (Why?)

: Tin năng lượng — NLVN.vn

  • 0 lượt xem
  • Print Print