Thứ bảy, 15/08/2020 - 10 giờ 58 phút, chiều.

Tham luận: Kinh nghiệm NCKH-CGCN phục vụ các vùng khó khăn, vùng nông thôn

Ngày đăng: 26/03/2009 - 13:13

Bài tham luận của PGS. TS. Viện trưởng Viện KH&CN Công trình thuỷ trong hội thảo ‘Hoạt động Khoa học công nghệ với chiến lược phát triển toàn diện Trường Đại học Xây dựng’, được tổ chức vào cuối tháng 03/2009.

KINH NGHIỆM NCKH-CGCN PHỤC VỤ CÁC VÙNG KHÓ KHĂN, VÙNG NÔNG THÔN

PGS. TS. Nguyễn Thượng Bằng

Viện trưởng Viện Khoa học và Công nghệ Công trình thuỷ – Trường Đại học Xây dựng

1. Đặt vấn đề

Tham luận với tiêu đề: Kinh nghiệm NCKH-CGCN phục vụ các vùng khó khăn, vùng nông thôn của tôi đóng góp một phần rất nhỏ bé để chúc cho Hội thảo “Hoạt động Đào tạo và Khoa học Công nghệ với chiến lược phát triển toàn diện Trường Đại học Xây dựng” đầu năm 2009.

Khoa học kỹ thuật nói chung và khoa học công nghệ ngày nay nói riêng phải phục vụ con người, phục vụ sự phát triển xã hội và gìn giữ môi trường. Khoa học không chỉ phục vụ bản thân nó, nếu không, nó không thể phát triển. Ứng dụng vào trường ta, nếu Đào tạo và Nghiên cứu không vì thực tế và không phục vụ thực tế thì làm thế nào Trường ĐHXD có thể vươn lên ngang tầm với các trường kỹ thuật hàng đầu của Việt Nam.

Nhiều tham luận của các nhà khoa học trong và ngoài trường đã đề cập tới đối tượng phục vụ của mình. Ngày nay, đối tượng phục vụ thật là rộng lớn, hết sức phong phú và đa dạng, hết sức phức tạp nằm ẩn mình trong nhiều bộ phận của cộng đồng. Cần đặt nhiệm vụ cho những ngành nghiên cứu KHCN mũi nhọn, đi trước một bước, cần có những phát minh sáng chế để phục vụ mức sống văn minh ngày càng cao của xã hội, nhưng vẫn cần một bộ phận nghiên cứu phục vụ đối tượng “đói”, “nghèo”, “trình độ thấp” đang tồn tại trong xã hội văn minh ở nước ta hiện nay.

Trao đổi đôi nét như vậy để minh họa cho tên của tham luận và đối tượng phục vụ của bài viết này.

Có ba lý do chính để tôi được tham gia hội thảo với chủ đề trên:

– Thứ nhất: Là một giảng viên tâm huyết với nghề đào tạo, có kinh nghiệm hoạt động khoa học kỹ thuật, có sự thông cảm chân thành với cộng đồng.

– Thứ hai: Đang tham gia quản lý Trung tâm Nghiên cứu Công trình thủy, là một Trung tâm do Bộ Giáo dục và Đào tạo thành lập từ năm 1990 (nay là Viện Khoa học và Công nghệ Công trình thuỷ, được Bộ Giáo dục và Đào tạo ra quyết định thành lập vào đầu năm 2009), hoạt động KHCN trong lĩnh vực công trình thủy.

– Thứ ba: đã và đang chủ trì nhiều dự án liên quan đến phục vụ tưới tiêu, cấp nước sinh hoạt, cấp điện cho một số vùng núi, vùng sâu, vùng xa. Đối tượng phục vụ là nhân dân nghèo thiếu ruộng, bộ đội thiếu nước sinh hoạt, thậm chí cán bộ và phạm nhân ở các trại giam quan trọng.

2. Trao đổi một số kinh nghiệm trong Hội thảo

Dưới góc độ cá nhân, dựa vào kinh nghiệm của bản thân và kinh nghiệm đúc rút trong thời gian công tác tại Trường và Trung tâm NC CTT, tôi xin trao đổi cùng các đại biểu dự Hội thảo một số kinh nghiệm sau.

Kinh nghiệm 1: “Nước ta còn một bộ phận dân cư đang sinh sống ở các vùng hết sức khó khăn, còn đói, và nghèo nhưng có tấm lòng thật rộng mở và rất yêu đời”.

a/ Tôi nhớ vào năm 2000, Trung tâm CTT do PGS. TS. Phạm Hồng Nhật làm giám đốc có nhận một hợp đồng điều tra khảo sát cho 7 xã đặc biệt khó khăn của huyện Kim Bôi (xã Nuông Dăm, Đú Sáng, Thượng Tiến, Hợp Thành, …), tỉnh Hòa Bình. Để thực hiện hợp đồng chúng tôi đã bố trí 7 thầy giáo và mỗi thầy có 3 sinh viên năm thứ 4 đi cùng. Lần đó tôi phụ trách xã Nuông Dăm. Từ 6 giờ sáng, thầy trò mỗi người một xe máy đi vào xã và phải mất gần 3 giờ mới tới nơi, trời mưa, đường trơn, nhiều lần ngã, thật vất vả. Nhưng không thấm tháp gì khi thấy các cháu nhỏ đi học, chúng bé tí, quần xắn cao và đi bộ 6 km từ bản tới lớp quãng đường phải qua 6 con suối. Cũng như vậy nếu buổi tối chương trình TV hay, bố, mẹ dắt con ra trung tâm xã (mới có điện và TV) rồi quay về vào lúc 12 giờ đêm. Trưởng bản đó (có 8 hộ dân) mời chúng tôi vào bản chiêu đãi rượu ngô, nướng sắn, tưởng chỉ có vậy nhưng bản đã mổ gà thết đãi đoàn. Bây giờ các xã đó đã có điện, đường dân sinh, cầu qua suối, kinh phí do Nhà nước cấp thông qua “chương trình 135” giúp đỡ các xã đặc biệt khó khăn.

b/ Vào năm 2001, Trung tâm NC CTT có nhận lập dự án xây dựng hồ chứa cấp nước sạch cho khu vực xã Phiêng Lanh, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La. Đây là một trong các khu tái định cư cho bà con phải di dời phục vụ CT TĐ Sơn La. Đường từ tỉnh lộ vào đến xã khoảng 35 km, nhưng xe UAT phải đi mất gần 5 tiếng đồng hồ. Càng đi, càng thấy xa, sốt ruột, tôi hỏi “còn xa nữa không các anh”, khi tôi hỏi lần thứ 2, anh Xuân Bằng, cán bộ phòng nông nghiệp Thuận Châu vừa cười hồn nhiên vừa trả lời “có đi thì có đến! có không đi thì có không đến!” và cả xe cùng cười vui, quên đoạn đường xóc cực kỳ khó đi và vất vả. Tôi nghĩ, hay thật, “có không đi thì có không đến”. Bà con mình thật dễ dàng diễn đạt một triết lý không phải là không phức tạp.

  c/ Gần đây, năm 2008, khi thực hiện đề tài cấp bộ trọng điểm về vai trò của thủy điện nhỏ vùng ngoài lưới điện Quốc Gia, chúng tôi có dịp vào Bản Biến, Xã Phúc Sơn, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. Đây là một Bản đặc biệt khó khăn và theo quy hoạch tới năm 2025 vẫn không có điện lưới, mặc dù theo đường chim bay Bản chỉ cách đầu mối thủy điện Tuyên Quang hơn 10km. Đợt công tác thứ nhất, đoàn chúng đi xe Ford Everest gầm cao và không thể leo qua một dốc đá cách Bản 15km. Sau khi bàn bạc, xe ô tô quay ra xã Phúc Sơn thuê 5 xe máy và chở đoàn vào Bản đi thực địa công trình.

 

 Lần thứ hai vào Bản, rút kinh nghiệm, chúng tôi sử dụng xe máy ngay từ UBND xã Phúc Sơn, mỗi người một xe tốt. Tiếc rằng hôm đó trời vừa mưa, đường vừa dốc vừa trơn, dọc đường bà con đi bộ chân đất cười và nói với chúng tôi rằng, nếu 2 bác 1 xe thì may ra đi được. Quả đúng như thế, phải 2 người mới có thể đẩy 1 xe lên dốc. Chúng tôi 4 người 4 xe, vậy mỗi dốc phải quay 2 vòng mới đưa được 4 xe lên. Mệt ơi là mệt, đúng là chúng tôi là cán bộ NCKH từ thành phố về, không hình dung đúng được về điều kiện khó khăn của bà con ra sao. Mệt, đói, và cuối cùng cũng vào được Bản, đây là một Bản đẹp, nên thơ nhưng ít người muốn vào tận đây để vãn cảnh và thả hồn vào thiên nhiên. Trưởng bản mời chúng tôi vài chén rượu Báng, là loại rượu cấn bằng men lá Báng mà chỉ có Bản Biến mới có, uống không đau đầu, sau đó đoàn được chiêu đãi đu đủ vườn. Chuyến đi thật vất vả nhưng thắm đượm tình người.

Kinh nghiệm 2: “Khoa học công nghệ phải cụ thể, chi tiết, dễ hiểu và giầu sức thuyết phục”.

a/ Năm 2004, chúng tôi thiết kế kỹ thuật 8 tuyến kênh tưới phục vụ huyện Kỳ Sơn và huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình với nguồn tài trợ không hoàn lại của tổ chức Nhà thờ thiên chúa giáo Australia. Xin kể lại chuyện duyệt phương án gia cố kênh tưới Bai Phan ở huyện Cao Phong. Đây là kênh nhỏ, phục vụ tưới cho 25ha lứa nước, chiều rộng kênh là 0,3m, chiều sâu là 0,4m. Tư vấn thiết kế đã nghiên cứu 3 phương án gia cố kênh là: kênh bê tông, kênh xây gạch và kênh xây đá, sau khi so sánh kiến nghị chọn phương án kênh bê tông. Trong cuộc họp phê duyệt thiết kế, cán bộ kỹ thuật thủy lợi của tỉnh và huyện đề nghị không chọn phương án kênh bê tông vì mấy lý do:

+ Kênh bê tông chắc chắn sẽ đắt hơn vì là bê tông không thể rẻ hơn vật liệu địa phương;

+ Không tận dụng được vật liệu gạch từ các lò gạch địa phương nên không thúc đẩy được sản xuất của địa phương.

Ngày đó, chúng tôi đã rất nhẹ nhàng, cụ thể chỉ ra những ưu điểm của kênh bê tông như sau:

(1) Kênh bê tông rẻ hơn vì khối lượng vật liệu rất nhỏ so với hai phương án gạch xây và đá xây.

(2) Diện tích chiếm đất ruộng ít hơn.

(3) Quản lý khai thác vận hành rất dễ dàng, tổn thất lưu lượng và cột nước nhỏ

(4) Mỹ thuật đẹp, độ bền cao.

Sau khi tranh luận giải thích, cuối cùng tư vấn thiết kế cũng thuyết phục được chủ đầu tư chấp nhận phương án kênh bê tông, nhưng có vẻ không thật thoải mái.

Hôm đi nghiệm thu cùng xã và huyện, chúng tôi thấy mấy nông dân đang làm đất ở thửa ruộng cuối kênh (dài 2km) và hỏi thăm. Bà con nói: “cám ơn cán bộ, trước kia chúng em phải thức đêm để mở cửa cống và đi dọc kênh bịt các chỗ lấy nước và ruộng đã đầy mà mãi tới gần trưa nước mới tới được ruộng của nhà và không đủ nước tưới. Nay thì mở cống nửa giờ là ruộng em thoải mái nước”. Đồng chí cán bộ thủy lợi huyện thì tâm sự: “đúng là các thầy có kiến thức, kênh bê tông hay thật”, chúng tôi hỏi “hay như thế nào?”, anh trả lời, ruộng của một số hộ không có cửa chia nước, họ phải đục kênh để lấy nước, khi đầy lấy bùn nút lại là xong, nếu là kênh gạch hoặc đá xây chắc chỉ qua một vụ tưới sẽ hỏng hết, còn kênh bê tông thì không vấn đề gì”.

 

 b/ Ngoài phục vụ nông nghiệp và nước sạch nông thôn miền núi, chúng tôi có thiết kế một số công trình cho các trại giam. Ở trại giam số 6 (huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An), cần lấy nước phục vụ phạm nhân cả hai bên vai đập bê tông, đập khá cao, nằm mãi thượng nguồn, không có điện, khó trông coi. Chúng tôi đề xuất giải pháp lấy nước kiểu cống Chiron, tức là lấy nước mặt không cửa van điều tiết. Lúc duyệt tại Tổng cục Hậu cần, Bộ Công An, có ý kiến cho rằng “chưa thấy kiểu cống ấy bao giờ, không biết có tin cậy không”. Quả thực kiểu lấy nước này ít được thiết kế ở Việt Nam hơn các kiểu khác, do đó chúng tôi đã dành khá nhiều thời gian giải thích, đưa các hình mẫu thiết kế, ảnh chụp ở một số công trình trong và ngoài nước để thuyết phục. Khi vận hành, cũng các sĩ quan công an và giám thị trại giam so sánh: “Ở trại giam số 5 và trại Thanh Phong, lấy nước theo kết cấu thông thường, nước rất đục, thường xuyên phải nạo vét bể chứa, còn ở đây thì mỗi năm chỉ phải thay bể một lần”.

 

 c/ Năm 2006, Trung tâm NC CTT cùng chủ đầu tư là sư đoàn 324 (Đô Lương, Nghệ An) thuộc quân khu IV và đơn vị hưởng lợi (Trung đoàn 335, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An) nghiệm thu và đưa vào sử dụng hồ chứa nước E335 cấp nước sinh hoạt cho trung đoàn. Mùa mưa năm 2007 sau cơn bão số 5 đổ bộ vào Nghệ An, Thanh Hóa, mực nước hồ E335 dâng nhanh, xuất hiện hiện tượng thấm tại mái hạ lưu đập. Tư vấn thiết kế đã cùng chủ đầu tư và nhà thầu thi công kiểm tra hiện trường. Sau khi nghiên cứu, TVTK đề xuất giải pháp là: hạ mực nước hồ, diễn tập bộ đội trên đỉnh và cơ đập, tăng cường theo dõi kiểm tra hiện tượng thấm. Ngay sau đó, lãnh đạo E335 đi tới đập, trực tiếp đề xuất với TVTK và sư 324 với nội dung như sau: “Nước đang tích trong hồ là vô cùng quý đối với trung đoàn, có thể làm gì cũng được nhưng không đồng ý hạ mực nước hồ”. Càng giải thích thêm rằng E335 là trung đoàn đủ quân (2500 cán bộ chiến sĩ), vấn đề nước sinh hoạt đã từng được giải quyết những năm 1990 bằng trạm bơm lấy nước từ sông Lam dẫn qua 10km vào trung đoàn, nhưng do tiền điện, do ô nhiễm nước từ nhà máy đường Sông Lam nên phương án này đã dừng lại. Nay có được hồ nước của riêng trung đoàn nên không thể “phí phạm”. Nghe vậy, chúng tôi một lần nữa cân nhắc và cuối cùng vẫn cho rằng phải hạ mực nước hồ, gia tải động và thêm yếu tố của thời gian cho quá trình tự cố kết. Một mặt giải thích, động viên trung đoàn, mặt khác tới sư đoàn 324 gặp Sư đoàn trưởng báo cáo tình hình và đề nghị sư đoàn có công văn tới trung đoàn 335. Trong quân đội, “quân lệnh như sơn”, với kỹ thuật “sểnh một ly, đi một dặm”. Tiếc nước đã tích thật, nhưng nếu vỡ đập thì chẳng còn một giọt nước nào cả. Bây giờ hồ E335 đã ổn như hình ảnh dưới đây.

 

 Kinh nghiệm 3: “Nhà khoa học, nhà kỹ thuật phải biết chia sẻ, phải cùng làm với đối tượng phục vụ của mình, cùng ăn, cùng uống như đồng bào mình”.

a/ Trở lại chuyện dự án 135 huyện Kim Bôi, chiều thứ 7 (lần đầu tiên vào xã Nuông Dăm), tôi và một sinh viên tới UBND xã nhưng chẳng gặp ai, có người nói cán bộ xã đi vào bản uống rượu mừng gia đình mới sinh cháu nhỏ và sẽ về vào lúc tối. Sợ hỏng việc, chúng tôi đợi đến tối mịt mới thấy mấy xe máy đi tới ủy ban xã, đúng là lãnh đạo xã đã về. Tôi chào, đưa giấy giới thiệu của UBND huyện và nói về nhiệm vụ của mình, đồng chí chủ tịch xã nói: “tối rồi, say rượu, mai là chủ nhật, không làm việc”, nghe xong tôi phát hoảng vì quỹ thời gian ở lại là có hạn. Để gây ấn tượng tôi khích “vậy bác còn rượu không, chẳng lẽ để thầy trò tôi nhịn đói từ trưa đến giờ à?”, lúc đó tự nhiên chủ tịch xã nhẹ giọng “vậy vào nhà tao”, tới lúc đó tôi mới hẹn “bây giờ tối rồi, phải về báo cáo tình hình, hẹn đúng 7 giờ sáng mai vào làm việc, sau khi đi phỏng vấn sẽ ăn trưa và uống rượu tại UBND, không được thiếu rượu, trường ĐHXD sẽ chủ chi”. Thế là mũi đi xã Nuông Dăm của chúng tôi thành công vào hôm sau.

 

 b/ Tại Chùa Tiên, xã Phú Lão, huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình, trung tâm NC CTT rất thành công khi lập dự án thiết kế công trình liên hồ Phú Lão. Xin kể lại chuyện tìm mốc đo đạc địa hình và mốc thi công. Theo hồ sơ để lại, có hơn 30 mốc địa hình đúc bê tông, người nhận là một cán bộ của xã Phú Lão. Nhưng khi chuẩn bị thi công thì đã cách hơn 2 năm so với lúc khảo sát. Vậy là đồng chí chủ nhiệm công trình cùng với đồng chí cán bộ xã đi tìm mốc. Định đến tối quay về Hà Nội, nhưng mới tìm thấy 5 mốc không nhìn thấy nhau, vậy phải ở lại. Ngày hôm sau chúng tôi đề nghị để mấy anh Hà Nội dẫn đường theo bản đồ đánh dấu mốc chứ không theo cách hôm trước đi theo trí nhớ của cán bộ địa phương. Kết quả chúng tôi tìm đủ mốc thi công chỉ nửa buổi sáng với đôi tay phồng rộp vì cầm xẻng và que thép để đào đất. Lúc chia tay, đồng chí nhận mốc nói: “chịu các thầy, tôi là người nhận mốc thì không tìm ra, còn các bố đến đây chỉ vài lần mà cứ vanh vách”.

 c/ Công trình Phú Lão, Bác Tiên bí thư, anh Thú chủ tịch

Cũng tại công trình liên hồ Phú Lão, còn vốn để thiết kế và thi công 300m kênh mương nhưng tuyến kênh phải đi ven đường trước nhà một số hộ dân, các hộ dân không đồng ý. Tối hôm đó, sau khi bàn với chủ đầu tư, tư vấn thiết kế nói với Bí thư và Chủ tịch xã Phú Lão: “còn tiền làm 300m kênh nếu các bác thích là thì ủng hộ”, các đồng chí đó nói nửa đùa nửa thật: “nếu biết uống rượu và hút thuốc lào thì được, đặc biệt mấy thầy kia kìa”, sau đó, chẳng biết vì tình cảm hay vì 300m kênh mà đồng chí chủ nhiệm công trình, không những uống rượu, hút thuốc lào (ống điếu là ống bương đường kính khoảng 10cm) với Chủ tịch xã mà còn ăn cả trầu không với đồng chí bí thư xã. Hôm sau cả Bí thư cả Chủ tích cùng đi cắm tuyến 300m kênh mới, tôi nhớ đồng chí chủ tịch xã nói với các hộ: “ai có ý kiến gì phản đối thì mai ra UBND xã giải quyết, còn nếu ai gây khó khăn đối với tuyến kênh sẽ cho công an xã bắt”. Việc là thế, chúng tôi tuy mệt vì say rượu say thuốc lào và phỏng mồm vì trầu không nhưng công việc lại chạy và bà con thì được hưởng lợi từ Đảng và Nhà nước.

3. Kết luận

 Chẳng có kết luận gì hơn những mẩu chuyện nho nhỏ mà chúng tôi kể lại từ thực tế NCKH-CGCN trên đây./.

Bài tham luận trên được đăng toàn văn trong ‘Tuyển tập báo cáo hội thảo: Hoạt động Khoa học công nghệ với chiến lược phát triển toàn diện Trường Đại học Xây dựng’, tháng 03/2009.

  • 235 lượt xem
  • Print Print